Gốc > Thông tin Đội THTP Hồ Chí Minh >
Đặng Đạm @ 21:44 10/04/2012
Số lượt xem: 1629
Giải phóng Quảng Ngãi- Mốc son chói lọi
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc, trong đó có sự đóng góp to lớn của Đảng bộ, quân và dân Quảng Ngãi, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tấn công nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.
Sau khi hiệp định Pari được ký kết vào ngày 27/1/1973, trong 2 năm 1973-1974, quân và dân ta liên tiếp mở các đợt tiến công và giành những thắng lợi quan trọng, làm cho cục diện chiến trường liên tục thay đổi có lợi cho ta. Đặc biệt, chiến thắng Phước Long (14/12/1974-6/1/1975) ta đã giải phóng và làm chủ hoàn toàn một tỉnh, nối thành hành lang chiến lược từ Tây Nguyên vào Đông Nam bộ.
Ngày 8/12/1974 đến ngày 7/1/1975, tại Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, bàn kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trên cơ sở đánh giá, so sánh lực lượng giữa ta và địch và thời cơ lịch sử đã xuất hiện, có lợi cho ta, Nghị quyết nêu rõ "Chưa bao giờ ta có đủ điều kiện về quân sự, chính trị và thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoàn thành thống nhất Tổ quốc". Bộ chính trị đã dự kiến "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".
Cuối tháng 1/1975, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và chủ trương của Khu uỷ V về việc "tiến công địch trong năm 1975, tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam", Tỉnh uỷ Quảng Ngãi họp ra Nghị quyết, quyết tâm đánh bại hoàn toàn kế hoạch bình định của địch, tiến lên giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi.
Trong lúc Đảng bộ, quân và dân Quảng Ngãi đang ra sức chuẩn bị lực lượng thì bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên, ngày 10/3/1975, quân ta tiến công mãnh liệt bằng các binh chủng hợp thành, giải phóng Thị xã Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk). Đây là một trận đánh then chốt, quyết định của chiến dịch, một trận điểm đúng huyệt, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở chiến trường Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.
Sau thất bại Tây Nguyên, địch hoang mang co cụm phòng thủ, khiến cho Mỹ - Nguỵ càng lâm vào thế bị động, lúng túng hơn.
Ở Quảng Ngãi, sau thắng lợi quân sự của ta năm 1974, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, lực lượng vũ trang của các huyện Mộ Đức, Đức Phổ đã tiến công cắt đứt các trục đường giao thông, làm cản trở việc chuyển quân, tiếp tế của địch từ trong ra, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Tại Nghĩa Hành, ta kiên cường giữ vững vùng giải phóng, đánh lùi tất cả các đợt phản kích của sư đoàn 2 nguỵ, đập tan kế họach Lý Thường Kiệt “bình định cấp tốc” của địch. Ở bắc Bình Sơn, đông Sơn Tịnh, phối hợp với bộ đội tỉnh bạn Quảng Tín (Quảng Nam), ta vây chặt, chặn đứng quân địch từ hướng Quảng Tín vào Quảng Ngãi, từng bước cô lập kẻ thù. Mọi cố gắng của địch không sao cứu vãn nỗi sự thất bại của chúng.
Đến trước giờ ta nổ súng, công kích (tức đêm 15 rạng 16/3/1975) ngoài lực lượng của Khu V, lực lượng của tỉnh (Trung đoàn 94) và bộ đội huyện, tổng số du kích toàn tỉnh lúc bấy giờ là 12.500 người, lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng hơn 668.000 người. Các Ban tiếp quản, Ban tiếp tế, cứu thương được thành lập.
Theo mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy tiền phương Quân khu V và Ban Chỉ huy chiến dịch của tỉnh, đêm 15, rạng 16/3/1975 ta chính thức nổ súng, đồng loạt tiến công vào các vị trí trọng điểm của địch.
Tại huyện Đông Sơn (vùng đông Bình Sơn - Sơn Tịnh), ngay trong đêm, lực lượng vũ trang của huyện và du kích tiến công, tiêu diệt địch ở ấp Phú Nhuận (Tịnh Phong), phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ tại chỗ.
Đồng thời các đội công tác và du kích áp sát, tạo ra thế trận uy hiếp, bao vây phía đông bắc thị xã Quảng Ngãi và phía đông chi khu quận lỵ Sơn Tịnh.
Ở phía tây Sơn Tịnh, trong đêm 15/3/1975, các lực lượng vũ trang tấn công, tiêu diệt chốt Đông Dương, Núi Đất, quần chúng nổi dậy phá sạch khu dồn Kim Sa. Thừa thắng, ta tiến công áp sát xuống ven Quốc lộ 1 làm chủ một số nơi. Địch ở Hòn Dầu, núi Tròn rút chạy. Vùng tây Sơn Tịnh được giải phóng hoàn toàn, phía tây bắc thị xã Quảng Ngãi và phía tây quận lỵ Sơn Tịnh bị ta uy hiếp.
Trước sự bao vây, tiến công mạnh mẽ từ nhiều hướng của quân giải phóng, đêm 16/3 rạng ngày 17/3/1975, địch ở Sơn Hà hốt hoảng tháo chạy. Ta nhanh chóng tiếp quản quận lỵ Sơn Hà. Ngày 18/3/1975, địch ở Trà Bồng cũng vội vàng tháo chạy.
Như vậy, sau ba ngày đêm, ở khu vực trọng điểm phía bắc Quảng Ngãi, ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và giải phóng một mảng phía tây và đông huyện Bình Sơn, chia cắt đoạn quốc lộ 1 từ Châu Ổ đi Dốc Sỏi, tạo ra thế bao vây, uy hiếp chi khu quận lị Bình Sơn.
Ngày 23/3/1975, Tỉnh uỷ ra Chỉ thị : “Đẩy mạnh công kích và khởi nghĩa toàn tỉnh, đánh đổ toàn bộ địch, giải phóng toàn bộ nông thôn, giải phóng thị trấn, thị xã, giành chính quyền về tay nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giải phóng toàn tỉnh”.
Quán triệt Chỉ thị của Tỉnh uỷ, toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong tỉnh rất phấn khởi, tin tưởng và quyết tâm cao trong khí thế tiến công và nổi dậy.
Được sự chi viện và chỉ đạo của cấp trên, các lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng nhất tề đứng dậy, triển khai đội hình, sẵn sàng ở các vị trí chiến đấu.
Đêm 23/3/1975, địch ở thị xã bắt đầu tháo chạy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phát Lời kêu gọi và ra lệnh công kích, khởi nghĩa.
Theo kế hoạch đã định, đúng 7 giờ 40 phút ngày 24/3/1975, ta bắt đầu bắn pháo vào tiểu khu, ga Ông Bố, Xóm Xiếc (Nghĩa Hành), chi khu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành. Các lực lượng vũ trang của ta chiếm lĩnh, chia cắt các chốt, điểm đã định và đoạn Quốc lộ 1 từ thị xã đi Chu Lai (Quảng Nam). Xe tăng quân giải phóng xuất phát từ Hòn Bà xuống Xóm Xiếc, tiến về Nghĩa Điền, áp sát ven tây nam thị xã.
Trước sức tấn công của quân giải phóng, địch phải bỏ cứ điểm, chốt đèo Bình Trung (Nghĩa Kỳ) rút chạy về thị xã. Kết hợp với tiến công của các lực lượng vũ trang, quần chúng nổi dậy diệt ác, phá các khu dồn Xóm Xiếc, Phú Bình, Phước Hậu (Nghĩa Hành), khu Bàu Giang, Đá Chẻ (Tư Nghĩa).
Đến chiều 24/3/1975, tiểu đoàn 406 và lực lượng vũ trang huyện Tư Nghĩa đánh chiếm quận lỵ Tư Nghĩa, sườn bảo vệ phía tây và nam thị xã bị hở. Địch ở thị xã, quận lỵ Sơn Tịnh hoang mang, rối loạn tháo chạy ra biển, nhưng bị các lực lượng vũ trang của ta chặn đường ra cửa Cổ Luỹ, buộc chúng phải quay về thị xã tiếp tục tìm đường thoát thân.
Sau khi kêu cứu Quân đoàn I chi viện không được, 12 giờ trưa ngày 24/3/1975, chuẩn tướng Trần Văn Nhật cùng bọn chỉ huy tiểu khu Quảng Ngãi chạy trốn khỏi thị xã Quảng Ngãi bằng máy bay trực thăng. Đến chiều, bọn nguỵ quân, nguỵ quyền ở các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa đều kéo nhau chạy về thị xã và đến 20 giờ ngày 24/3/1975 địch bắt đầu rút chạy khỏi thị xã.
Đúng như dự định từ trước, khi phát hiện địch sắp tháo chạy về hướng Chu Lai, vào lúc 23 giờ ngày 24/3, ta kịp thời bố trí trận địa dài 15km, bao vây, chia cắt địch từ dốc Trạm (Sơn Tịnh) đến cầu Nước Mặn (Bình Sơn). Ta tiêu diệt gần 600 tên và bắt sống trên 2.000 tên, bao gồm quân số của liên đoàn 11 biệt động quân, trung đoàn 6 của Sư đoàn 2, thiết đoàn 4, toàn bộ ác ôn trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền tỉnh, huyện.

Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi họp mở rộng (tháng 3/1975) quyết định giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: T.L
Sau khi địch rút chạy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Chỉ huy chiến trường đã ra lệnh cho các lực lượng của ta bên ngoài tiến vào thị xã ngay trong đêm 24/3/1975, phối hợp hành động của quần chúng bên trong nổi dậy tiến hành giải phóng nhà lao, chiếm lĩnh các cơ quan nguỵ quyền, kho tàng, các công sở của địch, dẫn đường cho bộ đội, cán bộ ta truy lùng bọn tàn quân, bắt ác ôn, kêu gọi binh lính địch ra hàng, nộp vũ khí, giữ gìn an ninh trật tự trong thị xã.
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã quyết định khẩn cấp “Thành lập Uỷ ban Quân quản thị xã Quảng Ngãi”.
Như vậy, trong chiến dịch Xuân 1975, nhất là đợt ra quân thần tốc từ 7 giờ 40 phút ngày 24/3/1975 đến 20 giờ ngày 24/3/1975, quân và dân tỉnh Quảng Ngãi đã liên tục tiến công và nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ nguỵ quân, nguỵ quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Cờ giải phóng đã tung bay trước toà hành chính tỉnh. Trên khắp các địa phương trong tỉnh, từ vùng núi đến đồng bằng ven biển, từ nam ra phía bắc đều rợp bóng cờ giải phóng tung bay trước niềm vui đại thắng của quân và dân Quảng Ngãi trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tỉnh Quảng Ngãi đã được hoàn toàn giải phóng.
Vào sáng ngày 31/3/1975, hàng vạn đồng bào thị xã cùng hàng vạn đồng bào các huyện đồng bằng, miền núi trong tỉnh kéo về thị xã, tập trung đến sân vận động Diên Hồng tham dự cuộc mít tinh lớn để chào mừng sự kiện toàn tỉnh được giải phóng và Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh do đồng chí Đoàn Nhật Nam, Phó bí thư Tỉnh uỷ làm Chủ tịch, ra mắt nhân dân.
Cờ giải phóng tung bay trên nóc nhà hội đồng chính quyền Sài Gòn tỉnh Quảng Ngãi (3/1975). Ảnh: T.L
Ngày 24/3/1975 mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến và trở thành ngày hội lớn hàng năm, ngày kỷ niệm đại thắng trong mùa Xuân 1975 lịch sử. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Quảng Ngãi cùng với nhân dân cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập- tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh dồn sức khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực khai hoang vỡ hoá, làm thuỷ lợi, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; thiết lập quan hệ sản xuất mới, xây dựng tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể; đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lao động để đáp ứng các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ do Trung ương Đảng ta đề ra. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh từng bước được ổn định.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình, đồng thời tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian 14 năm (1975 - 1989), quá trình phát triển của Quảng Ngãi gắn liền với quá trình phát triển của vùng duyên hải miền Trung nói riêng và cả nước nói chung; kinh tế - xã hội có những bước phát triển nhất định, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu. Việc huy động sức người, sức của cùng với sự đầu tư vốn của Trung ương xây dựng công trình thuỷ lợi Thạch Nham đã mang lại hiệu quả thiết thực đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà.
Sau khi tái lập tỉnh, tháng 7/1989, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp nhưng dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn thử thách, xây dựng tỉnh nhà phát triển, đạt được những kết quả quan trọng.
Thực hiện phương châm của Đảng ta: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sau 20 năm tái lập tỉnh đến nay, từ một tỉnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, Quảng Ngãi đã có bước chuyển mình quan trọng, đáng kể. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh tế và xã hội đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, đời sống của nhân dân được cải thiện, số hộ nghèo được giảm đáng kể. Trong đó diện mạo kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những đổi thay cơ bản.
Đặc biệt, trong năm 2009, Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã nỗ lực, đoàn kết và quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII. Nhờ đó, tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng 21%, cao gấp 4 lần mức bình quân chung cả nước. GDP bình quân đầu người đạt 817 USD, cao gấp 2,5 lần năm 2005 và tăng 35,4% so với năm 2008. Tổng thu ngân sách đạt trên 4.258 tỷ đồng, cao gấp 7 lần năm 2005 và tăng 165,1% so với năm 2008.

Đại công trình thuỷ lợi Thạch Nham đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn Quảng Ngãi.

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào, góp phần quyết định tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã cho ra các sản phẩm, nhà máy công nghiệp nặng Doosan xuất khẩu sản phẩm thiết bị khử mặn, cảng Giê-ma-đép đưa vào vận hành … đã làm cho Khu kinh tế Dung Quất bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, thay đổi cơ bản về chất, góp phần quyết định tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Cùng với những chuyển động tích cực về kinh tế, lĩnh vực văn hoá - xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Nhìn chung, 35 năm sau ngày giải phóng, nhờ phát huy tốt tinh thần đoàn kết nhất trí, nỗ lực vượt qua bao khó khăn, thử thách, Đảng bộ, quân và dân Quảng Ngãi đã đạt được những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ quê hương.
Đến nay, kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển và tăng trưởng khá cao; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp và từng bước hiện đại hoá; văn hoá xã hội ngày càng phát triển; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân luôn được giữ vững; các lĩnh vực quan trọng khác đều có bước phát triển vượt bậc… Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao.
Công tác xây dựng Đảng đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Hoạt động của các cơ quan Nhà nước các cấp, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới, phát huy.
Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh, toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tự hào, phát huy những thành tựu to lớn đã giành được trong đấu tranh, xây dựng và bảo vệ. Từ đó ra sức thi đua, vượt qua thử thách, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, vững bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Sau khi hiệp định Pari được ký kết vào ngày 27/1/1973, trong 2 năm 1973-1974, quân và dân ta liên tiếp mở các đợt tiến công và giành những thắng lợi quan trọng, làm cho cục diện chiến trường liên tục thay đổi có lợi cho ta. Đặc biệt, chiến thắng Phước Long (14/12/1974-6/1/1975) ta đã giải phóng và làm chủ hoàn toàn một tỉnh, nối thành hành lang chiến lược từ Tây Nguyên vào Đông Nam bộ.
Ngày 8/12/1974 đến ngày 7/1/1975, tại Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, bàn kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trên cơ sở đánh giá, so sánh lực lượng giữa ta và địch và thời cơ lịch sử đã xuất hiện, có lợi cho ta, Nghị quyết nêu rõ "Chưa bao giờ ta có đủ điều kiện về quân sự, chính trị và thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoàn thành thống nhất Tổ quốc". Bộ chính trị đã dự kiến "Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".
Cuối tháng 1/1975, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và chủ trương của Khu uỷ V về việc "tiến công địch trong năm 1975, tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam", Tỉnh uỷ Quảng Ngãi họp ra Nghị quyết, quyết tâm đánh bại hoàn toàn kế hoạch bình định của địch, tiến lên giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi.
Trong lúc Đảng bộ, quân và dân Quảng Ngãi đang ra sức chuẩn bị lực lượng thì bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên, ngày 10/3/1975, quân ta tiến công mãnh liệt bằng các binh chủng hợp thành, giải phóng Thị xã Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk). Đây là một trận đánh then chốt, quyết định của chiến dịch, một trận điểm đúng huyệt, làm rối loạn sự chỉ đạo chiến lược và đảo lộn thế phòng thủ của địch ở chiến trường Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975.
Sau thất bại Tây Nguyên, địch hoang mang co cụm phòng thủ, khiến cho Mỹ - Nguỵ càng lâm vào thế bị động, lúng túng hơn.
Ở Quảng Ngãi, sau thắng lợi quân sự của ta năm 1974, thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, lực lượng vũ trang của các huyện Mộ Đức, Đức Phổ đã tiến công cắt đứt các trục đường giao thông, làm cản trở việc chuyển quân, tiếp tế của địch từ trong ra, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Tại Nghĩa Hành, ta kiên cường giữ vững vùng giải phóng, đánh lùi tất cả các đợt phản kích của sư đoàn 2 nguỵ, đập tan kế họach Lý Thường Kiệt “bình định cấp tốc” của địch. Ở bắc Bình Sơn, đông Sơn Tịnh, phối hợp với bộ đội tỉnh bạn Quảng Tín (Quảng Nam), ta vây chặt, chặn đứng quân địch từ hướng Quảng Tín vào Quảng Ngãi, từng bước cô lập kẻ thù. Mọi cố gắng của địch không sao cứu vãn nỗi sự thất bại của chúng.
Đến trước giờ ta nổ súng, công kích (tức đêm 15 rạng 16/3/1975) ngoài lực lượng của Khu V, lực lượng của tỉnh (Trung đoàn 94) và bộ đội huyện, tổng số du kích toàn tỉnh lúc bấy giờ là 12.500 người, lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng hơn 668.000 người. Các Ban tiếp quản, Ban tiếp tế, cứu thương được thành lập.
Theo mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy tiền phương Quân khu V và Ban Chỉ huy chiến dịch của tỉnh, đêm 15, rạng 16/3/1975 ta chính thức nổ súng, đồng loạt tiến công vào các vị trí trọng điểm của địch.
Tại huyện Đông Sơn (vùng đông Bình Sơn - Sơn Tịnh), ngay trong đêm, lực lượng vũ trang của huyện và du kích tiến công, tiêu diệt địch ở ấp Phú Nhuận (Tịnh Phong), phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ tại chỗ.
Đồng thời các đội công tác và du kích áp sát, tạo ra thế trận uy hiếp, bao vây phía đông bắc thị xã Quảng Ngãi và phía đông chi khu quận lỵ Sơn Tịnh.
Ở phía tây Sơn Tịnh, trong đêm 15/3/1975, các lực lượng vũ trang tấn công, tiêu diệt chốt Đông Dương, Núi Đất, quần chúng nổi dậy phá sạch khu dồn Kim Sa. Thừa thắng, ta tiến công áp sát xuống ven Quốc lộ 1 làm chủ một số nơi. Địch ở Hòn Dầu, núi Tròn rút chạy. Vùng tây Sơn Tịnh được giải phóng hoàn toàn, phía tây bắc thị xã Quảng Ngãi và phía tây quận lỵ Sơn Tịnh bị ta uy hiếp.
Trước sự bao vây, tiến công mạnh mẽ từ nhiều hướng của quân giải phóng, đêm 16/3 rạng ngày 17/3/1975, địch ở Sơn Hà hốt hoảng tháo chạy. Ta nhanh chóng tiếp quản quận lỵ Sơn Hà. Ngày 18/3/1975, địch ở Trà Bồng cũng vội vàng tháo chạy.
Như vậy, sau ba ngày đêm, ở khu vực trọng điểm phía bắc Quảng Ngãi, ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và giải phóng một mảng phía tây và đông huyện Bình Sơn, chia cắt đoạn quốc lộ 1 từ Châu Ổ đi Dốc Sỏi, tạo ra thế bao vây, uy hiếp chi khu quận lị Bình Sơn.
Ngày 23/3/1975, Tỉnh uỷ ra Chỉ thị : “Đẩy mạnh công kích và khởi nghĩa toàn tỉnh, đánh đổ toàn bộ địch, giải phóng toàn bộ nông thôn, giải phóng thị trấn, thị xã, giành chính quyền về tay nhân dân, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử giải phóng toàn tỉnh”.
Quán triệt Chỉ thị của Tỉnh uỷ, toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong tỉnh rất phấn khởi, tin tưởng và quyết tâm cao trong khí thế tiến công và nổi dậy.
Được sự chi viện và chỉ đạo của cấp trên, các lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng nhất tề đứng dậy, triển khai đội hình, sẵn sàng ở các vị trí chiến đấu.
Đêm 23/3/1975, địch ở thị xã bắt đầu tháo chạy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phát Lời kêu gọi và ra lệnh công kích, khởi nghĩa.
Theo kế hoạch đã định, đúng 7 giờ 40 phút ngày 24/3/1975, ta bắt đầu bắn pháo vào tiểu khu, ga Ông Bố, Xóm Xiếc (Nghĩa Hành), chi khu Sơn Tịnh, Nghĩa Hành. Các lực lượng vũ trang của ta chiếm lĩnh, chia cắt các chốt, điểm đã định và đoạn Quốc lộ 1 từ thị xã đi Chu Lai (Quảng Nam). Xe tăng quân giải phóng xuất phát từ Hòn Bà xuống Xóm Xiếc, tiến về Nghĩa Điền, áp sát ven tây nam thị xã.
Trước sức tấn công của quân giải phóng, địch phải bỏ cứ điểm, chốt đèo Bình Trung (Nghĩa Kỳ) rút chạy về thị xã. Kết hợp với tiến công của các lực lượng vũ trang, quần chúng nổi dậy diệt ác, phá các khu dồn Xóm Xiếc, Phú Bình, Phước Hậu (Nghĩa Hành), khu Bàu Giang, Đá Chẻ (Tư Nghĩa).
Đến chiều 24/3/1975, tiểu đoàn 406 và lực lượng vũ trang huyện Tư Nghĩa đánh chiếm quận lỵ Tư Nghĩa, sườn bảo vệ phía tây và nam thị xã bị hở. Địch ở thị xã, quận lỵ Sơn Tịnh hoang mang, rối loạn tháo chạy ra biển, nhưng bị các lực lượng vũ trang của ta chặn đường ra cửa Cổ Luỹ, buộc chúng phải quay về thị xã tiếp tục tìm đường thoát thân.
Sau khi kêu cứu Quân đoàn I chi viện không được, 12 giờ trưa ngày 24/3/1975, chuẩn tướng Trần Văn Nhật cùng bọn chỉ huy tiểu khu Quảng Ngãi chạy trốn khỏi thị xã Quảng Ngãi bằng máy bay trực thăng. Đến chiều, bọn nguỵ quân, nguỵ quyền ở các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa đều kéo nhau chạy về thị xã và đến 20 giờ ngày 24/3/1975 địch bắt đầu rút chạy khỏi thị xã.
Đúng như dự định từ trước, khi phát hiện địch sắp tháo chạy về hướng Chu Lai, vào lúc 23 giờ ngày 24/3, ta kịp thời bố trí trận địa dài 15km, bao vây, chia cắt địch từ dốc Trạm (Sơn Tịnh) đến cầu Nước Mặn (Bình Sơn). Ta tiêu diệt gần 600 tên và bắt sống trên 2.000 tên, bao gồm quân số của liên đoàn 11 biệt động quân, trung đoàn 6 của Sư đoàn 2, thiết đoàn 4, toàn bộ ác ôn trong bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền tỉnh, huyện.

Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi họp mở rộng (tháng 3/1975) quyết định giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: T.L
Sau khi địch rút chạy, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Chỉ huy chiến trường đã ra lệnh cho các lực lượng của ta bên ngoài tiến vào thị xã ngay trong đêm 24/3/1975, phối hợp hành động của quần chúng bên trong nổi dậy tiến hành giải phóng nhà lao, chiếm lĩnh các cơ quan nguỵ quyền, kho tàng, các công sở của địch, dẫn đường cho bộ đội, cán bộ ta truy lùng bọn tàn quân, bắt ác ôn, kêu gọi binh lính địch ra hàng, nộp vũ khí, giữ gìn an ninh trật tự trong thị xã.
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã quyết định khẩn cấp “Thành lập Uỷ ban Quân quản thị xã Quảng Ngãi”.
Như vậy, trong chiến dịch Xuân 1975, nhất là đợt ra quân thần tốc từ 7 giờ 40 phút ngày 24/3/1975 đến 20 giờ ngày 24/3/1975, quân và dân tỉnh Quảng Ngãi đã liên tục tiến công và nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ nguỵ quân, nguỵ quyền, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Cờ giải phóng đã tung bay trước toà hành chính tỉnh. Trên khắp các địa phương trong tỉnh, từ vùng núi đến đồng bằng ven biển, từ nam ra phía bắc đều rợp bóng cờ giải phóng tung bay trước niềm vui đại thắng của quân và dân Quảng Ngãi trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tỉnh Quảng Ngãi đã được hoàn toàn giải phóng.
Vào sáng ngày 31/3/1975, hàng vạn đồng bào thị xã cùng hàng vạn đồng bào các huyện đồng bằng, miền núi trong tỉnh kéo về thị xã, tập trung đến sân vận động Diên Hồng tham dự cuộc mít tinh lớn để chào mừng sự kiện toàn tỉnh được giải phóng và Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh do đồng chí Đoàn Nhật Nam, Phó bí thư Tỉnh uỷ làm Chủ tịch, ra mắt nhân dân.
Cờ giải phóng tung bay trên nóc nhà hội đồng chính quyền Sài Gòn tỉnh Quảng Ngãi (3/1975). Ảnh: T.L
Ngày 24/3/1975 mãi mãi đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến và trở thành ngày hội lớn hàng năm, ngày kỷ niệm đại thắng trong mùa Xuân 1975 lịch sử. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Quảng Ngãi cùng với nhân dân cả nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập- tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng cuộc sống hoà bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh dồn sức khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực khai hoang vỡ hoá, làm thuỷ lợi, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; thiết lập quan hệ sản xuất mới, xây dựng tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể; đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lao động để đáp ứng các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ do Trung ương Đảng ta đề ra. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh từng bước được ổn định.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình, đồng thời tiến hành công cuộc cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian 14 năm (1975 - 1989), quá trình phát triển của Quảng Ngãi gắn liền với quá trình phát triển của vùng duyên hải miền Trung nói riêng và cả nước nói chung; kinh tế - xã hội có những bước phát triển nhất định, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu. Việc huy động sức người, sức của cùng với sự đầu tư vốn của Trung ương xây dựng công trình thuỷ lợi Thạch Nham đã mang lại hiệu quả thiết thực đối với sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà.
Sau khi tái lập tỉnh, tháng 7/1989, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, tình hình quốc tế diễn biến phức tạp nhưng dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã nêu cao truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua khó khăn thử thách, xây dựng tỉnh nhà phát triển, đạt được những kết quả quan trọng.
Thực hiện phương châm của Đảng ta: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sau 20 năm tái lập tỉnh đến nay, từ một tỉnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, Quảng Ngãi đã có bước chuyển mình quan trọng, đáng kể. Cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh tế và xã hội đạt được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, đời sống của nhân dân được cải thiện, số hộ nghèo được giảm đáng kể. Trong đó diện mạo kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những đổi thay cơ bản.
Đặc biệt, trong năm 2009, Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã nỗ lực, đoàn kết và quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII. Nhờ đó, tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng 21%, cao gấp 4 lần mức bình quân chung cả nước. GDP bình quân đầu người đạt 817 USD, cao gấp 2,5 lần năm 2005 và tăng 35,4% so với năm 2008. Tổng thu ngân sách đạt trên 4.258 tỷ đồng, cao gấp 7 lần năm 2005 và tăng 165,1% so với năm 2008.

Đại công trình thuỷ lợi Thạch Nham đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nông thôn Quảng Ngãi.

Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đi vào, góp phần quyết định tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Nhìn chung, 35 năm sau ngày giải phóng, nhờ phát huy tốt tinh thần đoàn kết nhất trí, nỗ lực vượt qua bao khó khăn, thử thách, Đảng bộ, quân và dân Quảng Ngãi đã đạt được những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ quê hương.
Đến nay, kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển và tăng trưởng khá cao; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp và từng bước hiện đại hoá; văn hoá xã hội ngày càng phát triển; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân luôn được giữ vững; các lĩnh vực quan trọng khác đều có bước phát triển vượt bậc… Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân tỉnh nhà ngày càng được nâng cao.
Công tác xây dựng Đảng đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường. Hoạt động của các cơ quan Nhà nước các cấp, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới, phát huy.
Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh, toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tự hào, phát huy những thành tựu to lớn đã giành được trong đấu tranh, xây dựng và bảo vệ. Từ đó ra sức thi đua, vượt qua thử thách, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, vững bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
(Báo điện tử Quảng Ngãi)
Đặng Đạm @ 21:44 10/04/2012
Số lượt xem: 1629
Số lượt thích:
0 người
 
- Hô Chí Minh đẹp nhất tên Người (10/04/12)
- Gặp người cắm cờ trên nóc Dinh Độc lập (18/03/12)
- Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (15/03/12)
- Câu chuyện chọn đá Hồng Ngọc làm cờ cho Lăng Bác Hồ (29/02/12)
- Kể mãi câu chuyện về Người (01/06/11)





Các ý kiến mới nhất